Nhật tụng – phổ thông

Vu Lan

Nghi thức lễ Vu Lan – báo hiếu.

BẢN ĐỌC ĐẦY ĐỦ ĐÃ CÓ TRONG THƯ VIỆN

Mở bản đầy đủ để hành trì

Trang hiện tại được giữ nguyên để tra cứu. Nếu cần đọc từ đầu tới cuối, dùng bản đầy đủ đã được lưu nội bộ; không tự ghép hoặc sửa lời nghi thức bằng máy.

MỞ BẢN ĐẦY ĐỦ
NGHI THỨC TRỌN BỘ · BẢN VĂN TRONG THƯ VIỆN

Nghi Thức Lễ Vu Lan

Nguồn nội bộ: Nghi Thức Tụng Niệm Hằng Ngày – soạn và dịch: Sa môn Thích Thiện Thành.

Chuẩn Diệu An: toàn bộ phần dưới đây được lấy liền mạch từ nghi thức tương ứng trong PDF TRONG THƯ VIỆN; không để “Đảnh lễ”, “Chú Đại Bi”, “Kệ khai kinh”, “Hồi hướng”, “Phục nguyện” chỉ có tiêu đề.

LỄ VU LAN [Kinh Vu Lan Bồn (Ullambana Sùtra)] GỒM CÓ: • Chú Tịnh Pháp Giới, và Tịnh Tam Nghiệp • Cúng Hương • Cầu Nguyện • Khen Ngợi Phật • Quán Tưởng Phật • Đảnh Lễ • Tán Hương cúng Phật • Chú Đại Bi • Kệ Khai Kinh • Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu • Kinh Vu Lan Bồn • Khen Ngợi Đức Mục Kiền Liên • Kinh Bát Nhã Ba La Mật • Chú Vãng Sanh • Niệm Phật • Sám Vu Lan • Hồi Hướng • Phục Nguyện • Tam Quy DÙNG ĐỂ: Tụng niệm trong mùa Vu Lan, nhớ lại công ân sanh thành dưỡng dục của cha mẹ, và gương hiếu hạnh của Tôn giả Mục Kiền Liên. Khi tụng kinh, Phật tử nên chí thành cầu chư Phật và Hiền Thánh Tăng từ bi gia hộ cho cửu huyền thất tổ, đa sanh phụ mẫu, lục thân quyến thuộc vân vân, được sớm siêu thăng Phật quốc. NGHI THỨC LỄ VU LAN (Thắp đèn đốt hương, đứng ngay ngắn, chắp tay ngang ngực, chủ lễ mật niệm) CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI Án lam xoa ha. (3 lần) CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám. (3 lần) (Quì ngay thẳng, cầm 3 cây hương dâng ngang trán, chủ lễ niệm bài cúng hương). CÚNG HƯƠNG Nguyện đem lòng thành kính Gởi theo đám mây hương Phảng phất khắp mười phương Cúng dường ngôi Tam Bảo Thề trọn đời giữ Đạo Theo tự tánh làm lành Cùng pháp giới chúng sanh Cầu Phật từ gia hộ Tâm Bồ Đề kiên cố Xa bể khổ nguồn mê Chóng quay về bờ giác. (3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá) CẦU NGUYỆN Hôm nay là ngày chư Tăng xuất hạ, đem đức lành chú nguyện chúng sanh, chúng con một dạ chí thành, thiết lễ hương hoa cúng dường và trì tụng kinh chú, xin đem công đức nầy, ngưỡng nguyện Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật, cùng các vị Bồ Tát, tịnh đức chúng Tăng từ bi gia hộ cho hương linh Phật tử:…, cùng tất cả chúng sanh, sớm rõ đường lành, thoát vòng mê muội, ra khỏi u đồ, siêu thăng Lạc Quốc. Ngưỡng mong oai đức cao dày, xót thương tiếp độ. Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo tác đại chứng minh. (3 lần, 1 tiếng chuông) KHEN NGỢI PHẬT Đấng Pháp Vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng Thầy dạy khắp trời, người Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận (1 tiếng chuông xá 1 xá) QUÁN TƯỞNG PHẬT Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y. (1 tiếng chuông, đại chúng đồng tụng) ĐẢNH LỄ - Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo. (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy) - Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy) - Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy) TÁN HƯƠNG CÚNG PHẬT Lư hương vừa ngún chiên đàn, Khắp xông pháp giới, đạo tràng mười phương, Quyện thành mây báu kiết tường, Chư Phật rõ biết ngọn hương chí thành, Pháp thân ảnh hiện rành rành, Chứng minh hương nguyện, tâm thành kính dâng. Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần, 1 tiếng chuông) CHÚ ĐẠI BI Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát. (3 lần, 1 tiếng chuông) Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án, tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì, hê rị ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà tát đa, na ma bà dà, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra sá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ bồ đề dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắc ni na, ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng kiết ra dạ, ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ, ta bà ha. Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha. (1 tiếng chuông) KỆ KHAI KINH Thăm thẳm cao siêu Pháp nhiệm mầu Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu, Con nay nghe thấy chuyên trì niệm, Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá) Phật nói KINH BÁO HIẾU PHỤ MẪU Một thuở nọ, Thế Tôn an trụ Xá Vệ thành Kỳ Thụ viên trung Chư Tăng câu hội rất đông Tính ra đến số hai muôn tám ngàn Lại cũng có các hàng Bồ Tát Hội tại đây đủ mặt thường thường. Bây giờ, Phật lại lên đường Cùng hàng đại chúng Nam phương tiến hành Đến giữa đường, rành rành mắt thấy Núi xương khô bỏ đấy lâu đời Thế Tôn bèn vội đến nơi Lạy liền ba lạy rồi rơi giọt hồng. Đức A Nan tủi lòng ái ngại Chẳng hiểu sao Phật lạy đống xương? Vội vàng xin Phật dạy tường Thầy là Tự Phụ ba phương, bốn loài Ai ai cũng kính Thầy dường ấy Cớ sao Thầy lại lạy xương khô? Phật rằng: trong các môn đồ Ngươi là đệ tử đứng đầu dày công Bởi chưa biết đục trong cho rõ Nên vì ngươi ta rõ đuôi đầu: (1 tiếng chuông) Đống xương dồn dập bấy lâu Cho nên trong đó biết bao cốt hài Chắc cũng có ông bà cha mẹ Hoặc thân ta hoặc kẻ ta sinh Luân hồi sanh tử, tử sinh Lục thân đời trước thi hài còn đây Ta lễ bái kính người tiền bối Và ngậm ngùi nhớ tới kiếp xưa Đống xương hỗn tạp chẳng vừa Không phân trai gái bỏ bừa khó coi Ngươi chịu khó xét soi cho kỹ Phân làm hai, bên nữ bên nam Để cho phân biệt cốt phàm Không còn lộn lạo nữ nam chất chồng Đức A Nan trong lòng tha thiết Biết làm sao phân biệt khỏi sai Ngài bèn xin Phật chỉ bày Khó lòng chọn lựa gái trai lúc này Còn sinh tiền dễ bề sắp đặt Cách đứng đi ăn mặc phân minh Đến khi rã xác tiêu hình Xương ai như nấy khó nhìn khó phân Phật mới bảo A Nan nên biết: (1 tiếng chuông) Xương nữ nam phân biệt rõ ràng Đàn ông xương trắng nặng hoằng Đàn bà xương nhẹ đen thâm dễ nhìn. Ngươi có biết cớ chi đen nhẹ? Bởi đàn bà sinh đẻ mà ra Sanh con ba đấu huyết ra Tám hộc, bốn đấu sữa hòa nuôi con Vì cớ ấy hao mòn thân thể Xương đàn bà đen nhẹ hơn trai A Nan nghe vậy bi ai Xót thương cha mẹ công dày dưỡng sanh Bèn cầu Phật thi ân dạy bảo Phương pháp nào báo hiếu song thân? Thế Tôn mới giảng ân cần: (1 tiếng chuông) Vì ngươi ta sẽ phân trần, lóng nghe Thân đàn bà nhiều bề cực nhọc Sanh đặng con mười tháng cưu mang Tháng đầu thai đậu tợ sương Mai chiều gìn giữ sợ tan bất thường Tháng thứ nhì dường như sữa đặc Tháng thứ ba như cục huyết ngưng Bốn tháng đã tượng ra hình Năm tháng ngũ thể hiện sinh rõ ràng Tháng thứ sáu lục căn đều đủ Bảy tháng thì đủ bộ cốt xương Lại thêm đủ lỗ chơn lông Cộng chung đến số tám muôn bốn ngàn Tháng thứ tám hoàn toàn tạng phủ Chín tháng thì đầy đủ vóc hình Mười tháng thì đến kỳ sinh Nếu con hiếu thuận xuôi mình ra luôn Bằng ngỗ nghịch làm buồn thân mẫu Nó vẫy vùng, đạp quấu lung tung Làm cho cha mẹ hãi hùng Sự đau, sự khổ không cùng tỏ phân Khi sinh sản muôn phần an lạc Cũng ví như được bạc, được vàng Thế Tôn lại bảo A Nan: (1 tiếng chuông) Ơn cha nghĩa mẹ mười phần phải tin Điều thứ nhứt - giữ gìn thai giáo Mười tháng trường châu đáo mọi bề. Thứ hai – sinh sản gớm ghê Chịu đau chịu khổ mỏi mê trăm phần. Điều thứ ba – thâm ân nuôi dưỡng Cực đến đâu bền vững chẳng lay. Thứ tư – ăn đắng nuốt cay Để dành bùi ngọt đủ đầy cho con. Điều thứ năm - lại còn khi ngủ Ướt mẹ nằm, khô ráo phần con. Thứ sáu – sú nước nhai cơm Miễn con no ấm chẳng nhờm chẳng ghê. Điều thứ bảy – không chê ô uế Giặt đồ dơ của trẻ không phiền. Thứ tám - chẳng nỡ chia riêng Nếu con đi vắng cha phiền, mẹ lo. Điều thứ chín - miễn cho con sướng Dầu phải mang nghiệp chướng cũng cam Tính sao có lợi thì làm Chẳng màng tội lỗi, bị giam, bị cầm. Điều thứ mười - chẳng ham trau chuốt Dành cho con các cuộc thanh nhàn Thương con như ngọc như vàng Ơn cha nghĩa mẹ sánh bằng Thái Sơn. Phật lại bảo, A Nan nên biết: (1 tiếng chuông) Trong chúng sanh tuy thiệt phẩm người Mười phần mê muội cả mười Không tường ơn trọng đức dày song thân Chẳng kính mến quên ơn trái đức Không xót thương dưỡng dục cù lao Ấy là bất hiếu mặc giao Những hạng người ấy đời nào nên thân. Mẹ sanh con cưu mang mười tháng Cực khổ dường gánh nặng trên vai Uống ăn chẳng đặng vì thai Cho nên thân thể hình hài kém suy. Khi sinh sản hiểm nguy chi xiết Sanh đặng rồi tinh huyết dầm dề Ví như thọc huyết trâu dê Nhất sinh thập tử nhiều bề gian nan. Con còn nhỏ lo toan chăm sóc Ăn đắng, cay, bùi, ngọt phần con Phải tắm phải giặt rửa trôn Biết rằng dơ dáy, mẹ không ngại gì. Nằm phía ướt, con nằm phía ráo Sợ cho con ướt áo, ướt chăn Hoặc khi ghẻ chóc khắp thân Ắt con phải chịu trăm phần thảm thương. Trọn ba năm bú nương sữa mẹ Thân gầy mòn nào nệ với con Khi con vừa được lớn khôn Cha mẹ dạy bảo cho con vỡ lòng Con đi học mở thông trí tuệ Dựng vợ chồng cho dễ làm ăn Ước mong con được nên thân Dầu cho cha mẹ cơ bần quản chi. Con ốm đau tức thì lo chạy Dầu tốn hao đến mấy cũng đành Khi con căn bệnh đặng lành Thì cha mẹ mới an thần định tâm. Công dưỡng dục sánh bằng non biển Cớ sao con chẳng biết ơn nầy Hoặc khi lầm lỗi bị rầy Chẳng tuân thì chớ, lại bày ngỗ ngang Hỗn cha mẹ phùng mang trợn mắt Khi trưởng huynh, nộ nạt thê nhi Bà con chẳng kể ra chi Không tuân sư phụ lễ nghi chẳng tường. Lời dạy bảo song đường không kể Tiếng khuyên răn anh chị chẳng màng Trái ngang chóng báng mọi đàng Ra vào lui tới mắng càn người trên. Vì lỗ mãng tánh quen làm bướng Chẳng kể lời trưởng thượng dạy răn Lớn lên theo thói hung hăng Đã không nhẫn nhịn, lại càng làm hung. Bỏ bạn lành, theo cùng chúng dữ Nết tập quen, làm sự trái ngang Nghe lời dụ dỗ huyênh hoang Bỏ cha bỏ mẹ trốn sang quê người. Trước còn tập theo thời theo thế Thân lập thân, tìm kế sinh nhai Hoặc đi buôn bán kiếm lời Hoặc vào quân lính với đời lập công. Vì ràng buộc đồng công mối nợ Hoặc trở ngăn vì vợ, vì con Quên cha, quên mẹ tình thâm Quê hương xứ sở lâu năm không về. Ấy là nói những người có chí Chớ phần nhiều du hí mà thôi Sau khi phá hết của rồi Phải tìm phương kế kiếm đôi đồng xài. Theo trộm cướp, hoặc là bài bạc Phạm tội hình, tù rạc phải vương Hoặc khi mang bệnh giữa đường Không người nuôi dưỡng, bỏ thân ngoài đồng. Hay tin dữ bà con cô bác Cùng mẹ cha xao xác buồn rầu Thương con than khóc ưu sầu Có khi mang bịnh đui mù vấn vương Hoặc bịnh nặng vì thương quá lẽ Phải bỏ mình làm quỉ giữ hồn Hoặc nghe con chẳng lo lường Trà đình tửu điếm phố phường ngao du Cứ mải miết con đường bất chính Chẳng mấy khi thần tỉnh mộ khan Làm cho cha mẹ than van Sinh con bất hiếu phải mang tiếng đời. Hoặc cha mẹ đến hồi già yếu Không ai nuôi thốn thiếu mọi điều Ốm đau đói rách kêu rêu Con không cấp dưỡng, bỏ liều chẳng thương. Phận con gái khi nương cha mẹ Còn có lòng hiếu để thuận hòa Cần lao phục dịch trong nhà Dễ sai, dễ khiến hơn là nam nhi. Song đến lúc tùng phu xuất giá Lo bên chồng, chẳng sá bên mình Trước còn lai vãng đến thăm Lần lần nguội lạnh biệt tăm biệt nhà. Quên dưỡng dục song thân ân trọng Không nhớ công mang nặng đẻ đau Chẳng lo báo bổ cù lao Làm cho cha mẹ tuôn trào lệ rơi. Nếu mẹ cha la rầy quở mắng Trở sanh lòng hờn giận chẳng kiên Đến khi chồng đánh liên miên Thì cam lòng chịu chẳng phiền chẳng than. Tội bất hiếu lưỡng ban nam nữ Nói không cùng nghiệp dữ phải mang Nghe Phật chỉ rõ mọi đàng Tất cả đại chúng lòng càng thảm thay. Gieo xuống đất, lấy cây lấy củi Đập vào mình, vào mũi, vào hông Làm cho các lỗ chân lông Thảy đều rướm máu ướt dầm cả thân Đến hôn mê tâm thần bất định Một giây lâu mới tỉnh than rằng: Bọn ta quả thật tội nhân Xưa nay chẳng rõ, không hơn người mù. Nay tỏ ngộ biết bao lầm lạc Ruột gan dường như nát như tan Tội tình khó nỗi than van Làm sao trả đặng muôn ngàn ân sâu. Trước Phật tiền ai cầu trấn tố Xin Thế Tôn mẫn cố bi lân Làm sao báo đáp thâm ân Tỏ lòng hiếu thuận song thân của mình? Phật bèn dùng phạm thinh sáu món Phân tỏ cùng đại chúng lóng nghe Ân cha, nghĩa mẹ nặng nề Không phương báo đáp cho vừa sức đâu. Ví có người ân sâu dốc trả Cõng mẹ cha tất cả hai vai Giáp vòng hòn núi Tu Di Đến trăm ngàn kiếp ân kia chưa vừa. Ví có người gặp cơn đói rét Nuôi song thân dâng hết thân nầy Xương nghiền thịt nát phân thây Trải trăm ngàn kiếp ân đây chưa đồng. Ví có người vì công sanh dưỡng Tự tay mình khoét thủng song ngươi Chịu thân mù tối như vầy Đến trăm ngàn kiếp ơn này thấm đâu. Ví có người cầm dao thiệt bén Mổ bụng ra rút hết tâm can Huyết ra khắp đất chẳng than Đến trăm ngàn kiếp thâm ân đâu bằng. Ví có người dùng ngàn mũi nhọn Đâm vào mình bất luận chỗ nào Tuy là sự khó biết bao Trải trăm ngàn kiếp không sao đáp đền Ví có người vì ân dưỡng dục Tự treo mình, cúng Phật thế đèn Cứ treo như vậy trọn năm Trải trăm ngàn kiếp ân thâm chưa đền Ví có người xương nghiền ra mỡ Hoặc dùng dao chặt bửa thân mình Xương tan, thịt nát chẳng phiền Đến trăm ngàn kiếp ơn trên chưa đồng. Ví có người vì công dưỡng dục Nuốt sắt nóng thấu ruột thấu gan Làm cho thân thể tiêu tan Đến trăm ngàn kiếp chưa ngang ơn nầy. Nghe Phật nói thảy đều kinh khủng Giọt lệ trần khó nỗi cầm ngăn Đồng thanh bạch với Phật rằng Làm sao trả đặng thâm ân song đường? Phật mới bảo các hàng Phật tử: (1 tiếng chuông) Phải lắng nghe ta chỉ sau nầy Chúng ngươi muốn đáp ơn dày Phải nên biên chép kinh đây lưu truyền. Vì cha mẹ trì chuyên phúng tụng Cùng ăn năn những tội lỗi xưa Cúng dường Tam Bảo sớm trưa Cùng là tu phước, chẳng chừa món chi. Rằm tháng bảy là ngày Tự Tứ Mười phương Tăng đều dự lễ nầy Sắm sanh lễ vật đủ đầy Chờ giờ câu hội đặt bày cúng dâng Đặng cầu nguyện song đường trường thọ Hoặc sanh về Tịnh Độ an nhàn Ấy là báo đáp thù ân Sanh thành dưỡng dục song thân của mình. Phật tử phải cần chuyên trì giới Pháp Tam Quy, ngũ giới giữ gìn Những lời ta dạy đinh ninh Phải nên vâng giữ thi hành đừng sai. Được như vậy mới là khỏi tội Bằng chẳng thì ngục tối phải sa Trong năm đại tội kể ra Bất hiếu thứ nhứt, thật là trọng thay. Sau khi chết, bị đày vào ngục Ngũ Vô gián cũng gọi A Tỳ Ngục nầy trong núi Thiết Vi Vách phên bằng sắt vây quanh bốn bề. Trong ngục nầy hằng ngày lửa cháy Đốt tội nhân hết thảy thành than Có lò nấu sắt cho tan Rót vào trong miệng tội nhân hành hình. Một vá đủ cho người thọ khổ Lột thịt da đau thấu tâm can Lại còn chó sắt cắn gang Phun ra khói lửa đốt đoàn tội nhân. Ở trong ngục có giường bằng sắt Bắt tội nhơn nằm khắp đó xong Rồi cho một ngọn lửa hồng Nướng quay chúng nó da phồng thịt thau. Móc bằng sắt thương đao gươm giáo Trên không trung đổ xuống như mưa Gặp ai chém nấy chẳng chừa Làm cho thân thể như dưa chín muồi. Những hình phạt vô phương kể hết Mỗi ngục đều có cách trị riêng Như là xe sắt phân thây Chim ưng mổ bụng trâu cày lưỡi le. Nếu chết được, chết liền cho đỡ Vì nghiệp duyên không nỡ hành thân Ngày đêm sống chết muôn lần Đến trăm ngàn kiếp không ngừng một giây. Sự hành phạt tại A Tỳ ngục Rất nặng nề ngỗ nghịch song thân Chúng ngươi đều phải ân cần Thừa hành lời dạy, phân trần ở trên. Nhứt là phải kinh nầy biên chép Truyền bá ra cho khắp Đông Tây Như ai chép một quyển nầy Cũng bằng đặng thấy một vì Thế Tôn. Nếu in đặng nghìn muôn quyển ấy Thì cũng bằng thấy Phật vạn thiên Tùy theo phước báo lưu truyền Chư Phật ủng hộ sở nguyền viên dung. Cha mẹ đặng xa miền khốc lãnh Lại hóa sanh về cảnh thiên cung Nghe lời Phật giảng vừa xong Khắp trong tứ chúng một lòng kính vâng. Lại phát nguyện dù thân nầy nát Ra bụi tro muôn kiếp chẳng nài Dầu cho kéo lưỡi trâu cày Đến trăm ngàn kiếp lời thầy không quên Ví như bị trăm ngàn dao mác Khắp thân nầy bằm nát như tương Trải trăm ngàn kiếp khôn lường Chúng con gìn giữ như phương thuốc mầu. Đức A Nan âu sầu đảnh lễ Cầu Thế Tôn đặt để hiệu kinh Dễ bề truyền bá chúng sanh Chuyên trì phúng tụng tu hành mai sau. Phật mới bảo A Nan nên biết : Quyển kinh nầy quả thiệt cao xa Đặt tên « BÁO HIẾU MẸ CHA » Cùng là ‘ÂN TRỌNG’ thật là chơn kinh. Các ngươi phải giữ gìn châu đáo Để đời sau y giáo phụng hành. Sau khi Phật dạy đành rành Bốn hàng Phật tử tâm thành vui theo. Cùng một lòng vâng lời Phật dạy Và kính thành tin chắc vẹn truyền Đồng nhau tựu lại Phật tiền Nhất tâm đảnh lễ, rồi liền lui ra. Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần, 1 tiếng chuông) PHẬT NÓI KINH VU LAN BỒN Một thuở nọ Thế Tôn an trụ Xá Vệ thành Kỳ Thụ viên trung Mục Liên mới đặng sáu thông Muốn cho cha mẹ khỏi vòng trầm luân. Công dưỡng dục thâm ân dốc trả Nghĩa sanh thành đạo cả mong đền Làm con hiếu hạnh vi tiên Bèn dùng huệ nhãn dưới trên kiếm tìm. Thấy vong mẫu sanh làm ngạ quỷ Không uống ăn tiều tụy hình hài Mục Liên thấy vậy bi ai Biết mẹ đói khát ai hoài tình thâm. Lo phẩm vật đem dâng từ mẫu Đặng đỡ lòng cực khổ bấy lâu Thấy cơm mẹ rất lo âu Tay tả che đậy, hữu hầu bốc ăn. Lòng bỏn xẻn tiền căn chưa dứt Sợ chúng ma cướp giựt của bà Cơm đưa chưa đến miệng đà Hóa thành lửa đỏ, nuốt mà được đâu. Thấy như vậy âu sầu thê thảm Mục Kiền Liên bi thảm xót thương Mau mau về chốn giảng đường Bạch cùng Sư Phụ tìm phương giản nàn. Phật mới bảo rõ ràng căn cội (1 tiếng chuông) Rằng mẹ ngươi gốc tội kết sâu Dầu ngươi thần lực nhiệm mầu Một mình không thể khấn cầu được đâu. Lòng hiếu thảo của ngươi dầu lớn Tiếng vang đồn thấu đến Cửu Thiên Cùng là các bực Thầy kỳ Tà ma ngoại đạo, bốn vì Thiên Vương Cộng ba cõi sáu phương tu tập Cũng không phương cứu tế mẹ ngươi Muốn cho cứu được mạng người Phải nhờ thần lực của mười phương Tăng. Pháp cứu tế ta toan giảng nói Cho mọi người thoát khỏi ách nàn Bèn kêu Mục thị đến gần Truyền cho diệu pháp ân cần thiết thi : Rằm tháng bảy là ngày Tự Tứ (1 tiếng chuông) Mười phương Tăng đều dự lễ này Phải toan sắm sửa chớ chầy Thức ăn trăm món, trái cây năm màu. Lại phải sắm giường nằm nệm lót Cùng thau, bồn, đèn đuốc, nhang, dầu Món ăn trong sạch báu mầu Đựng trong bình bát vọng cầu kính dâng. Chư Đại đức mười phương thọ thực Trong bảy đời sẽ được siêu thăng Lại thêm cha mẹ hiện tiền Đặng nhờ phước lực tiêu khiên ách nàn. Vì ngày ấy Thánh Tăng đều đủ Dầu ở đâu cũng hội tụ về Như người thiền định sơn khê Tránh điều phiền não chăm về thiền na Hoặc người đặng bốn tòa đạo quả Công tu hành nguyện thỏa vô sanh Hoặc người thọ hạ kinh hành Chẳng ham quyền quý ẩn danh lâm tòng Hoặc người được lục thông tấn phát Và những hàng Duyên Giác, Thinh Văn Hoặc chư Bồ Tát mười phương Hiện hình làm sãi ở gần chúng sanh Đều trì giới rất thanh, rất tịnh Đạo đức dày chánh định chơn tâm Tất cả các bực Thánh, Phàm Đồng lòng thọ lãnh bát cơm lục hòa Người nào có sắm ra vật thực Để cúng dường Tự Tứ Tăng thời Hiện tiền phụ mẫu của người Bà con quyến thuộc thảy đều nhờ ơn. Tam đồ khổ chắc rằng ra khỏi Cảnh thanh nhàn hưởng thọ tự nhiên. Như còn cha mẹ hiện tiền Nhờ đó cũng được bá niên thọ trường. Như cha mẹ bảy đời quá vãng Sẽ hóa sanh về cõi thiên cung Người thời tuấn tú hình dung Hào quang chiếu sáng khắp cùng châu thân. Phật dạy bảo mười phương tăng chúng Phải tuân theo thể thức sau nầy : (1 tiếng chuông) Trước khi thọ thực đàn chay Phải cầu chú nguyện cho người tín gia Cầu thất thế mẹ cha thí chủ Định tâm thần quán đủ đừng quên Cho xong định ý hành thiền Mới dùng phẩm vật đàn tiền hiến dưng Khi thọ dụng, nên an vật thực Trước Phật đài hoặc tự tháp trung Chư Tăng chú nguyện viên dung Sau rồi tự tiện thọ dùng bữa trưa Pháp cứu tế Phật vừa nói dứt Mục Liên cùng Bồ Tát chư Tăng Đồng nhau tỏ dạ vui mừng Mục Liên cũng hết khóc thương buồn rầu Mục Liên mẫu cũng trong ngày ấy Kiếp khổ về ngạ quỷ được tan. Mục Liên bạch với Phật rằng : (1 tiếng chuông) Mẹ con nhờ sức Thánh Tăng khỏi nàn Lại cùng nhờ oai thần Tam Bảo Nếu không thời nạn khổ khó ra Như sau Phật tử xuất gia Vu Lan Bồn pháp dùng mà độ sanh Độ cha mẹ còn đương tại thế Hoặc bảy đời có thể được không ? Phật rằng : Lời hỏi rất thông Ta vừa muốn nói, ngươi liền hỏi theo. Thiện nam tử, Tỳ kheo nam nữ Cùng Quốc vương, Thái tử, Đại thần Tam Công, Tể tướng, Bá quan Cùng hàng lê thứ vạn dân cõi trần Như chí muốn đền ơn cha mẹ Hiện tại cùng thất thế tình thâm Đến rằm tháng bảy mỗi năm Sau khi kiết hạ, chư Tăng tựu về Chính ngày ấy Phật đà hoan hỷ Phải sắm sanh bá vị cơm canh Đựng trong bình bát tinh anh Chờ giờ Tự Tứ, chúng Tăng cúng dường Đặng cầu nguyện song đường trường thọ Chẳng ốm đau cũng chẳng khổ chi Cùng cầu thất thế đồng thời Lìa nơi ngạ quỷ, sanh về nhơn, thiên Đặng hưởng phước nhân duyên vui đẹp Lại xa lìa nạn khổ cực thân Môn sanh Phật tử ân cần Hạnh tu hiếu thuận phải cần phải chuyên Thường cầu nguyện thung huyên an hảo Cùng bảy đời phụ mẫu siêu sanh Ngày rằm tháng bảy mỗi năm Vì lòng hiếu thảo ân thâm phải đền. Lễ cứu tế chí thành sắp đặt Ngõ cúng dường chư Phật chư Tăng Ấy là báo đáp thù ân Sanh thành dưỡng dục song thân buổi đầu. Đệ tử Phật lo âu gìn giữ Mới phải là Thích tử Thiền môn. Vừa nghe dứt pháp Lan Bồn Môn sanh tứ chúng thảy đồng hỷ hoan Mục Liên với bốn ban Phật tử Nguyện một lòng tín sự phụng hành. (1 tiếng chuông) KHEN NGỢI ĐỨC MỤC KIỀN LIÊN Mục Liên Tôn Giả Thay Phật tuyên hành Gậy vàng vừa gõ Cửa ngục băng thanh Tội nhơn giải thoát Tịnh Độ hóa sinh Phúc huệ mãi an lành. Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần, 1 tiếng chuông) KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, qua hết thảy khổ ách. ”Này Ông Xá Lợi Phất, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế.” ”Này Ông Xá Lợi Phất, ”tướng không của mọi pháp” không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt, nên trong ”chân không”, không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới, không có vô minh, cũng không có cái hết vô minh, cho đến không có già chết, cũng không có cái hết già chết, không có khổ, tập, diệt, dạo, không có trí huệ, cũng không có chứng đắc. Vì không có chỗ chứng đắc, nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại, nên không sợ hãi, xa hẳn điên đảo, mộng tưởng, đạt tới cứu cánh Niết Bàn. Chư Phật trong ba đời cũng y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú, là Đại Minh Chú, là Vô Thượng Chú, là Vô Đẳng Đẳng Chú, trừ được hết thảy khổ, chân thật không hư.” Vì vậy, liền nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa: ”Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.” (1 tiếng chuông) CHÚ VÃNG SANH Nam mô a di đa bà dạ, đa tha dà đa dạ, đa địa dạ tha, a di rị đô, bà tỳ, a di rị đa, tất đam bà tỳ, a di rị đa, tỳ ca lan đế, a di rị đa, tỳ ca lan đa, dà di nị, dà dà na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha. (3 lần, 1 tiếng chuông) NIỆM PHẬT A Di Đà Phật thân sắc vàng, Tướng tốt rực rỡ, hào quang sáng ngời, Mày trắng tỏa, Tu Di uyển chuyển, Mắt trong ngần, bốn biển long lanh, Ánh hào quang hóa vô số Phật, Vô số Bồ Tát hiện ở trong, Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh, Chín phẩm sen vàng lên giải thoát, Qui mạng lễ A Di Đà Phật, Ở phương Tây thế giới an lành Con nay xin phát nguyện vãng sanh, Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ. (1 tiếng chuông) Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. (mỗi câu 3 lần, 1 tiếng chuông) Nam Mô A Di Đà Phật. Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát. Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. SÁM VU LAN Đệ tử chúng con Vâng lời Phật dạy Ngày rằm tháng bảy Gặp hội Vu Lan Phạm Vũ huy hoàng Đốt hương đảnh lễ Mười phương tam thế Phật, Pháp, Thánh, Hiền Noi gương đức Mục Kiền Liên Nguyện làm con thảo (1 tiếng chuông) Lòng càng áo não Nhớ nghĩa thân sanh Con đến trưởng thành Mẹ dày đau khổ Ba năm nhũ bộ Chín tháng cưu mang Không ngớt lo toan Quên ăn bỏ ngủ Ấm no đầy đủ Cậy có công cha Chẳng quản yếu già Sanh nhai lam lũ Quyết cùng hoàn vũ Phấn đấu nuôi con Giáo dục vuông tròn Đem đường học đạo Đệ tử ơn sâu chưa báo Hổ phận kém hèn Giờ này quỳ trước đài sen Chí thành cung kính Đạo tràng thanh tịnh Tăng Bảo trang nghiêm Hoặc thừa tự tứ Hoặc hiện tham thiền Đầy đủ thiện duyên Dũ lòng lân mẫn Hộ niệm cho: (1 tiếng chuông) Bảy kiếp cha mẹ chúng con Đượm nhuần mưa Pháp Còn tại thế: Thân tâm yên ổn Phát nguyện tu trì Đã qua đời: Ác đạo xa lìa Chóng thành Phật quả Ngưỡng mong các đức Như Lai Khắp cõi hư không Từ bi gia hộ. (1 tiếng chuông) HỒI HƯỚNG Cầu siêu công đức, hạnh nhiệm mầu Thắng phước bao nhiêu con nguyện cầu Tất cả chúng sanh trong pháp giới Hướng về Phật Pháp tỏ đạo mầu. Nguyện cho ba chướng tiêu tan Phiền não dứt sạch, huệ căn sáng ngời Cầu cho con được đời đời Hành Bồ Tát đạo, cứu đời lầm than. Nguyện sanh Tây Phương, cõi Lạc Bang Cha mẹ, sen vàng chín phẩm sanh Hoa nở, thấy Phật, quả viên thành Các vị Bồ Tát bạn lành với ta. Nguyện đem công đức lành Đệ tử hướng tâm thành Cầu cho khắp chúng sanh Đều chứng thành Phật quả. (1 tiếng chuông, chỉ chủ lễ phục nguyện) PHỤC NGUYỆN Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát Tát Đại Chứng Minh. (3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá) Xe Tam Thừa lộng lẫy, Thuyền Bát Nhã thênh thang, sáu đường dốc ngược đèo ngang, ba cõi sông mê lặn hụp, thảm nỗi oan khiên lắm lúc, hương linh không đủ phước vãng sanh. Nguyện hương linh: ... nay được an lành, nghe kinh kệ siêu thăng Tịnh Độ, vượt qua bể khổ, thoát khỏi Ta Bà, sen vàng chín phẩm nở hoa, pháp thân hiện Di Đà thọ ký. Âm siêu dương thới, pháp giới chúng sanh, đồng thành Phật quả. (1 tiếng chuông, đồng niệm) Nam Mô A Di Đà Phật. TAM QUY Con nương theo Phật, cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả, phát lòng vô thượng. (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy) Con nương theo Pháp, cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng, trí huệ như biển. (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy) Con nương theo Tăng, cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp, tất cả không ngại. (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy) NGHI THỨC
ĐÃ CÓ NỘI DUNG NỘI BỘ: Mục này đã có bản đọc thật trong Thư viện Diệu An. MỞ ĐÚNG NỘI DUNG ĐỂ ĐỌC / NGHE

Cấu trúc dự kiến khi có bản văn thật

  1. Giới thiệu nghi thức
  2. Chuẩn bị và oai nghi
  3. Phần hành trì
  4. Hồi hướng
  5. Ghi chú dị bản theo truyền thống/tự viện
Chuẩn thư viện: Trang này hiện chỉ là đầu mục tra cứu. Không có nút chức năng nào được xem là hoàn chỉnh cho đến khi Thư viện có toàn văn hoặc PDF thật, nguồn hợp lệ và đã kiểm tra.

Thông tin

Nghi thức lễ Vu Lan – báo hiếu.

Phân loại: Nhật tụng – phổ thông. Mục tiêu của kho là giúp người dùng tra nhanh theo nghi thức, vùng miền và hoàn cảnh sử dụng.

← Quay về Kho nghi lễ Việt Nam